Dù ngôn ngữ ấy có thể gây sốc cho một số người, Thánh Gioan Phaolô đã ghi nhận rằng những gì chỉ mới lờ mờ và chưa trọn vẹn trong Cựu Ước thì nay được bày tỏ trọn vẹn trong Êphêsô 5.246 Ngài xem chương này như là đỉnh cao của những chủ đề xuyên suốt Lời Chúa.247
Trong đó, Thánh Phaolô bắt đầu:
Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Ki-tô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy.248
Phần đầu của đoạn này thường gây khó khăn nhất cho độc giả: Người vợ phải phục tùng chồng sao? Người chồng là đấng cứu độ của vợ sao? Đối với nhiều người, điều này nghe như chủ nghĩa gia trưởng, sự thống trị của nam giới, hay sự nô lệ giới tính. Sáng thế 3:16 nói rằng một trong những hậu quả của nguyên tội là: “Người đàn bà ước muốn chồng mình, và chồng sẽ thống trị vợ.” Một chương trước đó, sách Sáng Thế đã gọi người nữ là “trợ giúp” của người nam. Vậy có phải bà chỉ là kẻ phụ thuộc dưới quyền chồng? Có phải đó thật sự là điều Thánh Phaolô muốn nói?
Sáng thế 2:18 có nói người nữ là ezer của người nam, nghĩa là “trợ giúp.” Nhưng đây không phải là một thuật ngữ hạ thấp hay đồng nghĩa với “người hầu.” Thực tế, đó chính là một danh hiệu thường xuyên được gán cho chính Thiên Chúa.249 Người nữ “giúp” người nam trở nên thật sự là con người và nhận ra ơn gọi để yêu thương. Người nam nhận ra và tìm thấy nhân tính của mình nhờ sự trợ giúp của người nữ.250
Thánh Phaolô không lặp lại mối tương quan méo mó giữa nam và nữ do tội lỗi gây nên ở Sáng thế 3:16, nhưng là để sửa chữa nó. Thánh Gioan Phaolô khẳng định rằng sự thống trị của nam giới đối với phụ nữ không chỉ hạ thấp người nữ, mà còn “làm mất đi phẩm giá đích thực của người nam.”251 Người đàn ông nào dùng sức mạnh để kiểm soát phụ nữ cho thấy rằng anh ta quá yếu để tự làm chủ chính mình. Anh ta tìm cách thống trị người khác vì làm như vậy dễ hơn là kiềm chế tính kiêu ngạo, dục vọng, giận dữ, ích kỷ của mình. Đây chính là sự gãy đổ mà Phaolô muốn chữa lành.
Thế nhưng, làm sao dung hòa những lời về phục tùng với phẩm giá mà người nữ sở hữu? Thánh Gioan Phaolô giải thích rằng khi đọc trong bối cảnh, sự phục tùng của người vợ đối với chồng trước hết có nghĩa là cảm nghiệm tình yêu.252
Nếu người chồng là “đầu của vợ,” và người vợ là “thân thể của chồng,” thì rõ ràng họ là một chủ thể duy nhất, hay như Thánh Gioan Phaolô nói, một “hiệp nhất hữu cơ.”253 Ở nơi khác, Phaolô cũng nói rằng vợ chồng hãy phục tùng lẫn nhau “vì lòng kính sợ Đức Kitô.”254 Hãy lưu ý rằng nguồn gốc của sự phục tùng hỗ tương là lòng kính sợ (lòng đạo đức) và biểu hiện của nó là tình yêu.255 Phaolô không hề nói về sự nô lệ, bởi tình yêu loại trừ mọi hình thức phục tùng nô lệ.256 Nó không thể là bất kỳ hình thức phục tùng nào làm hạ thấp cá nhân, chia rẽ đôi bạn, hay đi ngược lại sự hiệp thông đích thực giữa các ngôi vị.
Vậy thì loại phục tùng nào mới thật sự cao quý? Chìa khóa duy nhất để giải thích đoạn này là hiểu mối tương quan giữa Đức Kitô và Hiền Thê của Ngài là Hội Thánh.257 Điều này mặc khải chân lý thiết yếu về hôn nhân.258 Là đầu của Hội Thánh, Đức Kitô là Đấng Cứu Độ, nghĩa là Ngài phục vụ Hội Thánh bằng cách hiến dâng mạng sống mình làm hy tế cho Hội Thánh.
Thánh Phaolô giải thích:
Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền.259
Mẫu gương tình yêu mà Đức Kitô trao cho các người chồng chính là tình yêu được định nghĩa bằng việc “hiến mình vì Hội Thánh.” Như Thánh Gioan Phaolô giải thích, tình yêu này không chỉ là một hình ảnh biểu tượng, mà còn là khuôn mẫu tình yêu mà người chồng phải dành cho vợ mình trong hôn nhân.260 Vì là món quà của chính bản thân, tình yêu của Đức Kitô mang tính trung tín và vĩnh viễn. Tình yêu của người chồng dành cho vợ cũng phải như thế. Khi một người đàn ông “trao hiến” chính mình cho một người phụ nữ, điều đó có nghĩa là không hiến mình cho bất kỳ phụ nữ nào khác trong tư tưởng, lời nói hay hành động. Anh thuộc về vợ mình.
Tình yêu phu thê của Đức Kitô cũng là một tình yêu cứu chuộc. Thánh Gioan Phaolô chỉ ra rằng mục đích cốt yếu của tình yêu Đức Kitô chính là thánh hóa Hiền Thê của Ngài.261 “Mầu nhiệm cao cả” được mặc khải qua tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh cho thấy ý nghĩa hôn nhân của thân xác gắn liền với ý nghĩa cứu chuộc của nó. Trong sự liên kết này, Thánh Gioan Phaolô nhận xét rằng đôi bạn tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi về ý nghĩa của việc “hiện hữu trong thân xác.”262
Trong đoạn văn trên, Thánh Phaolô gắn việc trao ban của Tân Lang với việc tẩy sạch của Tân Nương. Người vợ được thánh hóa qua “nước thanh tẩy cùng với lời.” Ngôn ngữ này nghe xa lạ với người hiện đại, nhưng đối với thính giả của Phaolô thì lại rất quen thuộc. Trong văn hóa Hy Lạp và Do Thái cổ, cô dâu sẽ tắm trong một nghi thức trang trọng gọi là “thanh tẩy chuẩn bị hôn nhân” trước ngày thành hôn, dùng dầu thơm để trở nên sạch sẽ và xinh đẹp nhất có thể. Thánh Phaolô dùng hình ảnh này để diễn tả Bí tích Rửa tội, vốn tẩy sạch và làm đẹp linh hồn bằng cách xóa bỏ tội lỗi và ban tràn ân sủng.263 Sách Giáo lý viết: “Toàn bộ đời sống Kitô giáo mang dấu ấn của tình yêu ‘hôn nhân’ giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Bí tích Thánh Tẩy, cửa ngõ dẫn vào dân Thiên Chúa, đã là mầu nhiệm ‘hôn nhân’, nên cũng được gọi là ‘thanh tẩy chuẩn bị hôn nhân’ trước khi dự tiệc cưới là bí tích Thánh Thể.”264
Sau phép tắm hôn nhân, cô dâu được dẫn đến với chú rể, và Phaolô dùng vẻ đẹp thể xác của cô như hình ảnh cho vẻ đẹp thiêng liêng, chính là sự thánh thiện. Thánh Gioan Phaolô giải thích rằng điều này “như muốn ám chỉ đến yếu tố trong lễ cưới, lúc cô dâu, được trang điểm và trong trang phục lễ cưới, được dẫn đến trước mặt chú rể.”265 Ngài tiếp tục: “Điều có ý nghĩa là bản văn giới thiệu hình ảnh của Hội Thánh lộng lẫy như một Cô dâu rất đẹp về hình thể bên ngoài. Dĩ nhiên, đây chỉ là một ẩn dụ, nhưng nó rất tinh tế và cho thấy thân xác có vai trò quan trọng đến mức nào trong việc diễn tả tình yêu phu thê.”266
Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người.267
Nếu người chồng phải nuôi dưỡng vợ như Đức Kitô chăm sóc Hội Thánh, thì Đức Kitô nuôi dưỡng Hiền Thê bằng cách nào? Lương thực mà Đức Giêsu trao ban cho Hội Thánh chính là Thánh Thể: “Thịt Ta thật là của ăn, và Máu Ta thật là của uống.”268 Vì thế, bổn phận yêu thương của người chồng có thể được tóm gọn trong lời truyền phép của mỗi Thánh lễ: “Này là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em.” Những lời này không chỉ hứa hẹn một hy tế cho đến chết, mà còn món quà của sự sống. Đó là bản thiết kế của tình yêu phu thê (và vì thế, cũng là tình yêu cứu chuộc).
Trong Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô trở nên một với Hiền Thê là Hội Thánh, để ban cho nàng sự sống thiêng liêng và vĩnh cửu: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sống đời đời.”269 Cũng vậy, người chồng trao ban thân xác mình cho vợ để nàng đón nhận món quà sự sống qua sự kết hợp của họ.270 Vì Thánh Thể chính là ý nghĩa hôn nhân của thân xác Đức Kitô, nên nó mang chiều kích kết hợp và ban sự sống.271 Thực vậy, Thánh Gioan Phaolô nhận xét: “Hội Thánh trong khi kết hợp với Đức Kitô, như Hôn thê kết hợp với Hôn phu của mình, cũng kín múc từ bí tích Cứu chuộc toàn thể mẫu tính phong nhiêu thiêng liêng của mình.”272 Đây là lý do tại sao ngài gọi Thánh Thể là “Bí tích của Tân Lang và Tân Nương.”273
Khi bàn về chức linh mục, Thánh Gioan Phaolô lưu ý rằng Đức Giêsu ban cho chúng ta Thánh Thể để diễn tả cách nào đó “mối tương quan giữa nam và nữ, giữa điều ‘nữ tính’ và điều ‘nam tính.’”274 Christopher West giải thích: “Ý nghĩa hôn nhân của thân xác người nam mời gọi anh diễn tả hình ảnh Thiên Chúa trong sự khởi đầu của quà tặng còn ý nghĩa hôn nhân của thân xác người nữ mời gọi chị diễn tả hình ảnh nhân loại trong sự đón nhận và đáp lại quà tặng ấy.”275 Khuôn mẫu này được lặp lại xuyên suốt Kinh Thánh, khi Thiên Chúa khởi xướng các giao ước với Israel, hoặc khi Đức Kitô chủ động hiến mạng sống mình vì Hiền Thê là Hội Thánh. Tương tự, người nam được mời gọi khởi xướng quà tặng tình yêu dành cho người nữ. Dù lời mời gọi ấy đã bị bóp méo bởi dục vọng, sứ mạng đích thực của người nam vẫn không thay đổi.
Khi hiểu kế hoạch của Thiên Chúa về tình yêu nhân loại trong hôn nhân, không chỉ ý nghĩa Thánh lễ trở nên rực rỡ, mà mọi bí tích đều mang chiều sâu mới. Thánh Gioan Phaolô nhận định rằng mọi bí tích, theo cách nào đó, đều có nguyên mẫu trong hôn nhân như bí tích nguyên thủy.276 Theo lời ngài, hôn nhân là “nền tảng của toàn bộ trật tự bí tích.”277 Từng bí tích đều rút ý nghĩa và sức mạnh của mình từ tình yêu hôn nhân của Đức Kitô.278 Hôn nhân làm sáng tỏ mọi bí tích bởi vì chúng ta đang hiệp nhất với Đức Kitô theo một cách ban sự sống qua thân xác chúng ta.
Vì tình yêu nhân loại trong hôn nhân là dấu chỉ hướng nhân loại về Thiên Chúa như nguồn mạch sự viên mãn tối hậu, Thánh Phaolô tiếp tục trong Êphêsô 5 bằng lời sau:
“Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.”279
Như đã nói trước đó, đa số người đọc đoạn này mà không ngừng lại để tự hỏi: Vì lẽ gì? Để làm cho hữu hình tình yêu vô hình của Thiên Chúa. Việc chúng ta được dựng nên có nam và nữ, và lời mời gọi nên “một xương một thịt” mặc khải một chân lý sâu xa về mối tương quan giữa Đức Kitô và chúng ta. Như Thánh Gioan Phaolô xác quyết, đây là nền tảng để qua đó, mầu nhiệm vĩnh cửu của tình yêu trở nên hữu hình với chúng ta.280 Nói đơn giản, sự nên một xương một thịt là dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại và kế hoạch cứu độ của Ngài.281 Đây không phải là áp đặt thần học vào tình dục, mà là mặc khải kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa cho tính dục con người.
Thật đáng tiếc, vì nền văn hóa hiện đại đã làm suy đồi tính dục con người, nên nhiều người khó mà gắn kết điều thánh thiêng với điệu thuộc về tính dục. Thế nhưng hai điều này không được đặt đối lập nhau. Karol Wojtyła đã dành một phần quan trọng trong tác phẩm Tình yêu và Trách nhiệm cho chủ đề tính dục, và với tư cách là Giáo hoàng, ngài nhấn mạnh rằng thần học có thể soi sáng ý nghĩa của tính dục con người, đồng thời tính dục tự nó cũng có thể mặc khải những chân lý thần học. Ngài viết: “Kiến thức ‘thuần sinh học’ về các chức năng của thân thể như một cơ thể, gắn với nam tính và nữ tính của nhân vị, chỉ có thể giúp khám phá ý nghĩa hôn nhân đích thực của thân xác nếu nó đi đôi với sự trưởng thành thiêng liêng đầy đủ của nhân vị.”282 Để giành lại thân xác và tính dục khỏi một nền văn hóa đã bóp méo ý nghĩa của chúng, điều cần thiết không phải là sợ hãi, mà là lòng tôn kính.
Thánh Phaolô kết thúc những lời về hôn nhân và sự hiệp nhất một thân xác bằng cách tuyên bố:
“Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh.”283
Trong cái nhìn của Thiên Chúa, hôn nhân không chỉ đơn giản là điều mà hai người làm (trao lời hứa và rồi sống chung, yêu thương nhau). Đúng hơn, hôn nhân trước hết là điều mà hai người trở thành: một hình ảnh của tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh.284 Đây chính là “mầu nhiệm cao cả” mà Thánh Phaolô mặc khải. Điều từng được giấu kín như một mầu nhiệm nay trở thành hữu hình như một bí tích.
Định nghĩa căn bản của một bí tích là “dấu chỉ hữu hình của một thực tại vô hình.”285 Nhưng các bí tích của Hội Thánh còn hơn cả những dấu chỉ. Chúng là những dấu chỉ hữu hiệu, nghĩa là thông ban ân sủng. Thánh Gioan Phaolô giải thích: “Các bí tích thấm nhuần sự thánh thiện vào thực tại nhân tính của con người: chúng xuyên thấu linh hồn và thân xác, nữ tính và nam tính của nhân vị, bằng sức mạnh của sự thánh thiện.”286
Do đó, Thánh Gioan Phaolô khẳng định rằng bí tích Hôn phối “là phương thế để thực hiện nơi con người mầu nhiệm ẩn giấu từ muôn thuở trong Thiên Chúa.”287 Đừng bỏ qua ý nghĩa quan trọng của những lời này: Hôn nhân có thể thực hiện nơi con người mầu nhiệm vốn ẩn giấu trong Thiên Chúa từ muôn thuở. Mầu nhiệm ấy chính là kế hoạch cứu độ nhân loại, được tỏ lộ nơi Đức Kitô.288 Vì thế, căn tính và sứ mạng của hôn nhân Kitô giáo là để biểu lộ điều này. Thuở ban đầu, hôn nhân là một dấu chỉ rõ ràng về kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cho nhân loại. Dù dấu chỉ ấy đã bị hoen ố vì tội lỗi, nhưng tình yêu của Đức Kitô dành cho Hiền Thê đã khôi phục lại kế hoạch vinh hiển của Thiên Chúa.289
Ánh sáng của ẩn dụ này chiếu rọi cả hai chiều: không chỉ mối tương quan giữa Đức Kitô và Hội Thánh cho thấy hôn nhân phải như thế nào, mà hôn nhân cũng làm sáng tỏ tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh.290 Chẳng hạn, một người vợ và một người chồng trở nên một, và Đức Giêsu đã trở nên một thân xác với Hội Thánh bằng cách trao ban trọn vẹn chính mình cho nàng.291 Vì thế, Hiền Thê của Đức Kitô cũng được gọi là Thân Thể Đức Kitô.
Bởi vì Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô, nên Hội Thánh là sự tiếp nối của con người Đức Giêsu Kitô trong không gian và thời gian. Hai bên là một thân thể, và vì thế Hội Thánh có quyền thánh hóa các linh hồn, trừ quỷ, tha tội, công bố chân lý mà không sai lầm, và làm cho bánh và rượu trở thành Mình Máu Thánh Chúa. Tách quyền năng cứu độ của Đức Kitô ra khỏi Hội Thánh chẳng khác nào chặt lìa Thân Thể Đức Kitô, cũng chính là một sự ly dị. Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly.
Sau khi Phaolô công bố kế hoạch vinh hiển của Thiên Chúa cho hôn nhân, ngài kết luận:
“Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng.”292
Một công cụ hữu ích trong việc học Kinh Thánh là hãy nhớ rằng mỗi khi thấy chữ “vậy thì” (therefore), ta nên hỏi nó “có đó để làm gì.” Trong trường hợp này, Phaolô đề nghị rằng cách vợ chồng đối xử với nhau phải là hệ quả của việc họ ý thức rằng mình đang là dấu chỉ cho thế giới. Để yêu thương đúng cách, họ phải nhìn vào tình yêu giữa Đức Giêsu và Hiền Thê của Ngài. Hoặc, theo lời Thánh Gioan Phaolô, Thiên Chúa đang kêu gọi nam và nữ “học lại bí tích này từ mối tương quan phu thê giữa Đức Kitô và Hội Thánh.”293 Hai người phải ý thức rằng đời sống và tình yêu của họ “mang dấu chỉ của mầu nhiệm sáng tạo và cứu chuộc.”294 Ngài còn nói thêm: “Vợ chồng vì thế là lời nhắc nhở thường xuyên cho Hội Thánh về điều đã xảy ra trên Thập giá.”295
Ở mức độ các đôi vợ chồng thấm nhuần được những chân lý này, họ sẽ càng có khả năng yêu thương nhau hơn. Một trong những chức năng của hôn nhân là thánh hóa các đôi bạn. Hệ quả là, những khuyết điểm sẽ lộ rõ và những tội lỗi, bất toàn ấy sẽ thúc đẩy họ học cách tha thứ và xin tha thứ. Những thử thách sẽ đến, buộc họ phải quỳ gối cầu nguyện. Thế nhưng những gian nan ấy không hủy hoại tình yêu, chúng tôi luyện nó.
246 Cf. TOB 95:7.
247 Cf. TOB 87:3; 104:1.
248 Eph. 5:22–24.
249 Cf. Ex. 18:4; Ps. 33:20.
250 Cf. TOB 12:3.
251 Mulieris Dignitatem, 10.
252 Cf. TOB 92:6.
253 Eph. 5:22–33; TOB 91:2.
254 Eph. 5:21 (RSVCE).
255 Cf. TOB 89:3.
256 Cf. TOB 89:4.
257 Cf. TOB 89:8.
258 Cf. TOB 90:2.
259 Eph. 5:25–27.
260 Cf. TOB 91:4.
261 Cf. TOB 91:6.
262 TOB 102:5.
263 Cf. TOB 91:8.
264 Catechism of the Catholic Church 1617.
265 TOB 91:8.
266 TOB 92:2.
267 Eph. 5:28–30.
268 John 6:55 (RSVCE).
269 John 6:54 (RSVCE).
270 Cf. TOB 92:8.
271 Cf. TOB 97.
272 TOB 97:4.
273 Mulieris Dignitatem, 26.
274 Mulieris Dignitatem, 26.
275 West, Theology of the Body Explained, 411; cf. Mulieris Dignitatem 4; TOB 92:6.
276 Cf. TOB 98:2.
277 TOB 95b:7.
278 Cf. TOB 99:1.
279 Eph. 5:31.
280 Cf. TOB 95b:6.
281 Cf. TOB 92:3, 93:2.
282 TOB 59:4.
283 Eph. 5:32.
284 Cf. TOB 103:3.
285 TOB 87:5.
286 TOB 117b:2.
287 TOB 93:5.
288 Cf. TOB 93.
289 Cf. TOB 98:8.
290 Cf. TOB 90; 93.
291 Cf. Eph. 5:25; TOB 90:5.
292 Eph. 5:33.
293 TOB 102:2.
294 TOB 131:4.
295 Familiaris Consortio, 13.



Leave a Reply