Một khó khăn khác nảy sinh từ câu trả lời của Đức Kitô là: hôn nhân trần thế sẽ chấm dứt trong đời sau. Nhiều người có thể nghĩ rằng việc không còn hôn nhân trên thiên đàng khiến giá trị của nó giảm đi, nhưng thực ra điều ngược lại mới đúng. Ngay từ thuở ban đầu, hôn nhân đã là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người và là biểu tượng cho kế hoạch cứu độ của Ngài đối với chúng ta. Hôn nhân hướng chúng ta đến tiệc cưới được mô tả trong sách Khải Huyền.
Thân xác chúng ta bày tỏ rằng con người được dựng nên cho sự hiệp thông – bằng cách trao ban chính mình cách chân thành. Tuy nhiên, những mối tương quan trần thế không thể thỏa mãn trọn vẹn khát vọng sâu thẳm nhất của con người. Tình yêu nhân loại, dù nồng nàn đến đâu, vẫn chỉ là một cái bóng và một dấu chỉ của thực tại mà chúng ta được dựng nên để hướng tới: sự kết hợp hoan lạc, tràn đầy yêu thương với Ba Ngôi Thiên Chúa trên thiên đàng. Nếu đó là mục đích Thiên Chúa đặt để cho sự kết hợp nên một giữa người nam và người nữ nơi trần gian, thì có thể nói rằng việc không còn sự thân mật vợ chồng trong thiên đàng lại chính là điều biểu lộ vinh quang của nó! Biết bao lòng kính sợ và tôn trọng mà con người cần phải có đối với hồng ân tính dục, khi nhận ra rằng nó được ban cho vì một mục đích cao cả đến thế!
Bởi vì thân xác con người bày tỏ rằng con người được tạo dựng cho sự hiệp thông, nên thiên đàng sẽ là sự viên mãn tối hậu của hiệp thông. Đó là sự hoàn thành trọn vẹn ý nghĩa hôn nhân của thân xác. Như Đức Thánh Cha giải thích: “Ý nghĩa hợp hôn tuyệt đối và vĩnh cửu của thân xác vinh quang được mạc khải ra trong sự kết hợp với chính Thiên Chúa, nhờ được nhìn thấy Ngài ‘diện đối diện’”.223 Chỉ trên thiên đàng, chúng ta mới có thể hoàn toàn hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa mà không còn giữ lại điều gì, không còn dấu vết của tội lỗi. Và cũng chỉ trên thiên đàng, chúng ta mới có thể hoàn toàn đón nhận trọn vẹn hồng ân Thiên Chúa trao ban đó là chính Ngài cho chúng ta.224
Trong đời sống mai sau, Thiên Chúa sẽ không chỉ được tỏ lộ cho chúng ta, như thể thiên đàng chỉ là một biển người chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài. Thánh Gioan Phaolô II giải thích rằng ân sủng của Thiên Chúa sẽ không chỉ được tỏ bày “trong mức độ sâu sắc nhất, nhưng ân sủng ấy còn được kinh nghiệm trong thực tại vinh phúc của nó.”225 Nhờ đó, chúng ta sẽ được cảm nghiệm “sự tham dự trọn vẹn vào đời sống nội tại của Thiên Chúa, tức là chính Thực Tại Ba Ngôi.”226
Trong một lời tuyên bố đáng chú ý, Thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng Thiên Chúa sẽ thông ban chính mình “trong chính thần tính của mình, không chỉ cho linh hồn nhưng cho toàn thể con người như một chủ thể tâm-thể-lí.”227 Câu nói thần học sâu sắc này có nghĩa là ân sủng của Thiên Chúa không chỉ thánh hóa linh hồn chúng ta, mà còn thấm nhập cả vào thân xác chúng ta nữa! Chúng ta sẽ tham dự vào chính đời sống nội tại của Thiên Chúa, và trong trạng thái đó, “được thấm nhập sâu xa bởi thực tại có yếu tính thần linh, đạt tới đỉnh cao của nó, nhờ đó đời sống tâm linh của con người đạt tới tầm mức viên mãn mà trước đó nó tuyệt đối không thể có được.”228 Là người Công giáo, điều này không làm chúng ta ngạc nhiên, bởi trong mỗi Thánh lễ, chúng ta vẫn cầu nguyện: “Xin cho chúng con được tham dự vào thần tính của Đấng đã đoái thương thông phần nhân tính của chúng con.”
Sự hiệp nhất khôn tả này với Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ không nuốt chửng chúng ta hay làm giảm đi tính cá vị của chúng ta. Trái lại, sự hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên trọn vẹn là người.229Vì lý do đó, sự nên thánh nên được hiểu như là sự nở rộ viên mãn của nhân vị — cả thân xác lẫn linh hồn. Nơi Người, chúng ta khám phá lại chính mình và ý nghĩa của việc được tạo dựng cho hiệp thông. Nếu tình yêu khao khát sự hiệp nhất trọn vẹn, thì thiên đàng sẽ thoả mãn trái tim con người theo cách mà không gì ở trần gian có thể làm được.
Sau khi trình bày kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa dành cho thân xác và linh hồn chúng ta trên thiên quốc, Gioan Phaolô chuyển sự chú ý sang cách mà một số người nam và nữ chọn để nếm trước thực tại ấy ngay trên trần gian này.
223 TOB 75:1.
224 Cf. TOB 68:3.
225 TOB 67:5.
226 TOB 68:4.
227 TOB 67:3.
228 TOB 67:3.
229 Cf. TOB 67:3.

Leave a Reply